Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015


0:12
0:12
The human voice: It's the instrument we all play. It's the most powerful sound in the world, probably. It's the only one that can start a war or say "I love you." And yet many people have the experience that when they speak, people don't listen to them. And why is that? How can we speak powerfully to make change in the world?
Giọng nói con người là thứ nhạc cụ chúng ta đều chơi, Có lẽ nó là âm thanh quyền năng nhất trên đời. Nó là thứ duy nhất có thể gây tranh chiến hoặc nói nên lời “Tôi yêu em”. Nhưng nhiều người trải qua tình huống là khi họ nói, người khác không lắng nghe. Vì sao lại thế? Làm thế nào để nói một cách mạnh mẽ để tạo ra thay đổi cho thế giới?
0:32
0:32
What I'd like to suggest, there are a number of habits that we need to move away from. I've assembled for your pleasure here seven deadly sins of speaking. I'm not pretending this is an exhaustive list, but these seven, I think, are pretty large habits that we can all fall into.
Gợi ý của tôi là có một số tật xấu mà chúng ta cần bỏ. Ở đây tôi đã tập hợp bảy lỗi chết người trong giao tiếp. Tôi không nói danh sách đây đã kể ra được hết, nhưng bảy điều này, theo tôi, là những tật xấu lớn mà ai cũng có thể mắc.
0:48
0:48
First, gossip, speaking ill of somebody who's not present. Not a nice habit, and we know perfectly well the person gossiping five minutes later will be gossiping about us.
Thứ nhất, thèo lẻo, nói xấu người vắng mặt. Không tốt, và ta biết tỏng kẻ ngồi lê đôi mách kia, năm phút sau sẽ tung tin đồn thổi về ta.
1:00
1:00
Second, judging. We know people who are like this in conversation, and it's very hard to listen to somebody if you know that you're being judged and found wanting at the same time.
Thứ hai, sự phán xét. Chúng ta biết người như thế khi trò chuyện và rất khó để lắng nghe ai đó khi biết người ta đang phán xét mình và chê bai mình là thiếu năng lực.
1:11
1:11
Third, negativity. You can fall into this. My mother, in the last years of her life, became very, very negative, and it's hard to listen. I remember one day, I said to her, "It's October 1 today," and she said, "I know, isn't it dreadful?" (Laughter) It's hard to listen when somebody's that negative.
Thứ ba, sự tiêu cực. Bạn có thể mắc phải tật này. Mẹ tôi, trong các năm cuối đời, trở nên rất chi là tiêu cực, nên nói cũng khó nghe. Tôi nhớ có ngày tôi bảo bà, “Hôm nay là 1/10”, bà đáp, “Mẹ biết, điều đó không khủng khiếp sao?” (Cười) Thật khó lắng nghe người tiêu cực như thế.
1:29
1:29
And another form of negativity, complaining. Well, this is the national art of the U.K. It's our national sport. We complain about the weather, about sport, about politics, about everything, but actually complaining is viral misery. It's not spreading sunshine and lightness in the world.
Một dạng khác của tiêu cực, là sự than phiền. Đây là môn nghệ thuật dân tộc của nước Anh. Với ta là thể thao quốc gia. Chúng ta than về thời tiết, thể thao, chính trị, tất tần tật, nhưng than thở là nỗi khổ lan truyền. Nó không toả nắng và làm nhẹ gánh cho ai.
1:47
1:47
Excuses. We've all met this guy. Maybe we've all been this guy. Some people have a blamethrower. They just pass it on to everybody else and don't take responsibility for their actions, and again, hard to listen to somebody who is being like that.
Sự biện hộ. Chúng ta đều đã gặp anh chàng này. Chưa biết chừng ta đã từng là cậu ấy. Vài người có cỗ máy ném lỗi. Họ chỉ việc ném lỗi cho người khác, từ chối trách nhiệm của hành vi, thật khó lắng nghe những ai như thế.
2:01
2:01
Penultimate, the sixth of the seven, embroidery, exaggeration. It demeans our language, actually, sometimes. For example, if I see something that really is awesome, what do I call it? (Laughter) And then of course this exaggeration becomes lying, out and out lying, and we don't want to listen to people we know are lying to us.
Điều thứ sáu trong bảy điều, là sự tô màu, phóng đại. Thực tế là đôi khi nó hạ cấp ngôn ngữ chúng ta. Ví dụ nếu tôi thấy một điều thật sự tuyệt vời, tôi sẽ gọi nó là gì đây? (Cười) Dĩ nhiên sự phóng đại này trở thành bịa đặt, nổ và nổ văng miểng, ta không còn muốn nghe kẻ ta biết là đang nói dối.
2:23
2:23
And finally, dogmatism, the confusion of facts with opinions. When those two things get conflated, you're listening into the wind. You know, somebody is bombarding you with their opinions as if they were true. It's difficult to listen to that.
Và cuối cùng, sự giáo điều, nhầm lẫn giữa thực tế và quan điểm. Khi hai thứ đó được trộn vào nhau, bạn chỉ nghe gió thổi. Họ công kích bạn bằng ý kiến như thể đúng rồi. Thật khó mà nghe cho nổi.
2:39
2:39
So here they are, seven deadly sins of speaking. These are things I think we need to avoid. But is there a positive way to think about this? Yes, there is. I'd like to suggest that there are four really powerful cornerstones, foundations, that we can stand on if we want our speech to be powerful and to make change in the world. Fortunately, these things spell a word. The word is "hail," and it has a great definition as well. I'm not talking about the stuff that falls from the sky and hits you on the head. I'm talking about this definition, to greet or acclaim enthusiastically, which is how I think our words will be received if we stand on these four things.
Đấy là bảy lỗi chết người trong nói năng. Theo tôi, đây là những thứ chúng ta cần tránh. Nhưng có cách nào tích cực để nghĩ về việc này không? Có chứ! Tôi muốn gợi ý bốn viên đá góc nhà, làm nền tảng chắc chắn, để làm chỗ đứng nếu muốn lời nói của ta nên mạnh có sức làm thế giới đổi thay. May thay, bốn điều này họp thành một chữ. Chữ đó là “hail”, và ta có một định nghĩa tuyệt vời. Tôi không định nói về mưa đá trên trời rơi xuống và đập vào đầu bạn. Mà tôi nói định nghĩa này, là chào thăm hay hoan hô nồng nhiệt, chính là cách lời nói của ta được đón nhận nếu ta dựa vào bốn điều này.
3:17
3:17
So what do they stand for? See if you can guess. The H, honesty, of course, being true in what you say, being straight and clear. The A is authenticity, just being yourself. A friend of mine described it as standing in your own truth, which I think is a lovely way to put it. The I is integrity, being your word, actually doing what you say, and being somebody people can trust. And the L is love. I don't mean romantic love, but I do mean wishing people well, for two reasons. First of all, I think absolute honesty may not be what we want. I mean, my goodness, you look ugly this morning. Perhaps that's not necessary. Tempered with love, of course, honesty is a great thing. But also, if you're really wishing somebody well, it's very hard to judge them at the same time. I'm not even sure you can do those two things simultaneously. So hail.
Vậy chúng viết tắt cho những chữ gì? Xem bạn có đoán được không. Chữ H, honesty (sự trung thực), dĩ nhiên rồi, nói thật, nói thẳng, và rõ. Chữ A, authenticity (sự xác thực), hãy là chính bạn. Một người bạn tôi mô tả điều này là nói những gì bạn tin là thật, tôi nghĩ gọi cách này thật hay. Chữ I là integrity (sự chính trực), hãy là lời bạn nói, sống theo điều bạn nói, và là người đáng tin. Và chữ L là love (tình yêu thương). Ý tôi không phải tình yêu đôi lứa, mà là cầu chúc an lành cho người khác, vì hai lí do. Trước hết, tôi nghĩ có lẽ ta sẽ không muốn sự trung thực tuyệt đối. Ý tôi là, ôi trời, sáng nay trông em xấu thật. Có lẽ điều đó không cần thiết. Khi được nói bằng tình yêu, sự trung thực ấy là đáng quý. Hơn nữa, nếu bạn thật sự mong an lành cho ai đó, thì khó để phán xét họ. Tôi không chắc bạn có thể làm hai điều đó trong cùng một lúc. Đó là h-a-i-l.
4:15
4:15
Also, now that's what you say, and it's like the old song, it is what you say, it's also the way that you say it. You have an amazing toolbox. This instrument is incredible, and yet this is a toolbox that very few people have ever opened. I'd like to have a little rummage in there with you now and just pull a few tools out that you might like to take away and play with, which will increase the power of your speaking.
Đó là những điều bạn nói, nhưng như ông bà thường dạy, ngoài điều bạn nói, còn là cách bạn nói. Bạn có một hộp dụng cụ tuyệt vời. Những dụng cụ này hay không thể tưởng được, nhưng có ít người từng mở nó ra. Tôi muốn lục lọi chiếc hộp này cùng bạn và lấy ra vài món có thể bạn muốn cầm lấy và thử chơi, để tăng sức mạnh cho lời nói của bạn.
4:37
4:37
Register, for example. Now, falsetto register may not be very useful most of the time, but there's a register in between. I'm not going to get very technical about this for any of you who are voice coaches. You can locate your voice, however. So if I talk up here in my nose, you can hear the difference. If I go down here in my throat, which is where most of us speak from most of the time. But if you want weight, you need to go down here to the chest. You hear the difference? We vote for politicians with lower voices, it's true, because we associate depth with power and with authority. That's register.
Âm vực, chẳng hạn. Giọng the thé có lẽ không hiệu quả lắm, nhưng có một khoảng âm ở giữa. Tôi sẽ không đi vào kĩ thuật, với các huấn luyện viên giọng nói. bạn có thể định dạng giọng của mình. Nếu tôi nói ở mũi, có thể nghe thấy sự khác biệt. Nếu tôi hạ giọng xuống cổ, thì giống giọng hầu hết chúng ta. Nhưng nếu bạn muốn tăng sức nặng, thì cần hạ giọng xuống ngực. Bạn nghe thấy sự khác biệt chưa? Ta bỏ phiếu cho chính khách có giọng trầm, đúng thế, vì ta gắn độ trầm với sức mạnh và quyền uy. Đó là âm vực.
5:15
5:15
Then we have timbre. It's the way your voice feels. Again, the research shows that we prefer voices which are rich, smooth, warm, like hot chocolate. Well if that's not you, that's not the end of the world, because you can train. Go and get a voice coach. And there are amazing things you can do with breathing, with posture, and with exercises to improve the timbre of your voice.
Rồi đến âm sắc. Đó là cảm giác mà giọng bạn đem đến. Nghiên cứu cho thấy chúng ta chuộng chất giọng truyền cảm, mượt, ấm - như sô cô la nóng. Nếu bạn không được vậy thì cũng không phải tận thế, vì bạn có thể luyện. Tìm huấn luyện viên giọng. Và bạn có thể làm nên điều tuyệt vời với hơi thở, tư thế, và các bài luyện giọng bạn cải thiện âm sắc của mình.
5:38
5:38
Then prosody. I love prosody. This is the sing-song, the meta-language that we use in order to impart meaning. It's root one for meaning in conversation. People who speak all on one note are really quite hard to listen to if they don't have any prosody at all. That's where the world monotonic comes from, or monotonous, monotone. Also we have repetitive prosody now coming in, where every sentence ends as if it were a question when it's actually not a question, it's a statement. (Laughter) And if you repeat that one over and over, it's actually restricting your ability to communicate through prosody, which I think is a shame, so let's try and break that habit.
Rồi đến ngữ điệu. Tôi yêu ngữ điệu. Đó là lúc người nói như hát, bằng siêu ngôn ngữ ta dùng để truyền tải ý nghĩa lời nói. Đó là gốc rễ cho ý nghĩa trong hội thoại. Những ai chỉ nói đều đều, không có sự thay đổi ngữ điệu thì rất khó để lắng nghe. Từ “đơn điệu” từ đấy mà ra, hay sự đơn điệu, có tính đơn điệu. Tiếp đó còn sinh ra ngữ điệu lặp lại, khi mỗi lời nói kết thúc như một câu hỏi dù nó không phải là câu hỏi, mà là câu khẳng định. (Cười) Và nếu bạn cứ lặp đi lặp lại y như thế, nó sẽ hạn chế khả năng giao tiếp bằng ngữ điệu của bạn, và tôi nghĩ điều này cũng không nên, hãy cố bỏ tật xấu đó đi.
6:19
6:19
Pace. I can get very, very excited by saying something really, really quickly, or I can slow right down to emphasize, and at the end of that, of course, is our old friend silence. There's nothing wrong with a bit of silence in a talk, is there? We don't have to fill it with ums and ahs. It can be very powerful.
Nhịp độ. Tôi trở nên rất, rất chi hào hứng bằng cách nói rất, rất nhanh, hoặc tôi có thể nói chậm ngay lại để nhấn mạnh, và ở cuối câu, dĩ nhiên, là người bạn cũ, sự im lặng. Không có gì sai với một chút im lặng trong cuộc trò chuyện, đúng không? Ta không phải lấp bằng um và ah. Im lặng nhiều khi rất có uy.
6:42
6:42
Of course, pitch often goes along with pace to indicate arousal, but you can do it just with pitch. Where did you leave my keys? Where did you leave my keys? So slightly different meaning in those two deliveries.
Dĩ nhiên, cao độ thường đi kèm nhịp độ để thể hiện hứng khởi, nhưng có thể chỉ cần cao độ. Em để chìa khóa của anh ở đâu? Em để chìa khóa của anh ở đâu? Ý nghĩa của hai câu nói hơi khác nhau qua hai cách nói này.
6:55
6:55
And finally, volume. I can get really excited by using volume. Sorry about that if I startled anybody. Or, I can have you really pay attention by getting very quiet. Some people broadcast the whole time. Try not to do that. That's called sodcasting, imposing your sound on people around you carelessly and inconsiderately. Not nice.
Và cuối cùng, cường độ. Tôi có thể rất hào hứng bằng cách dùng cường độ. Xin lỗi nếu tôi làm ai đó giật mình. Hoặc, tôi có thể khiến bạn thật sự chú ý bằng cách nói rất khẽ. Có vài người lúc nào cũng phát sóng. Hãy cố đừng làm thế. Đấy gọi là lấy thịt đè người, áp đặt âm thanh của bạn lên người xung quanh cách vô tâm và bất cẩn. Không tốt.
7:19
7:19
Of course, where this all comes into play most of all is when you've got something really important to do. It might be standing on a stage like this and giving a talk to people. It might be proposing marriage, asking for a raise, a wedding speech. Whatever it is, if it's really important, you owe it to yourself to look at this toolbox and the engine that it's going to work on, and no engine works well without being warmed up. Warm up your voice.
Dĩ nhiên, khi vận dụng tất cả những điều này là khi bạn phải nói điều gì đó quan trọng. Có thể là đứng trên sân khấu và diễn thuyết trước khán giả. Có thể là cầu hôn, đề nghị tăng lương, phát biểu ở hôn lễ. Sự kiện nào đi nữa, nếu nó rất quan trọng, bạn tự thấy mình cần đến công cụ này và cỗ máy sẽ được vặn lên, và không máy nào chạy tốt nếu không được làm ấm. Hãy làm ấm giọng bạn.
7:46
7:46
Actually, let me show you how to do that. Would you all like to stand up for a moment? I'm going to show you the six vocal warmup exercises that I do before every talk I ever do. Anytime you're going to talk to anybody important, do these. First, arms up, deep breath in, and sigh out, ahhhhh, like that. One more time. Ahhhh, very good. Now we're going to warm up our lips, and we're going to go ba, ba, ba, ba, ba, ba, ba, ba. Very good. And now, brrrrrrrrrr, just like when you were a kid. Brrrr. Now your lips should be coming alive. We're going to do the tongue next with exaggerated la, la, la, la, la, la, la, la, la. Beautiful. You're getting really good at this. And then, roll an R. Rrrrrrr. That's like champagne for the tongue. Finally, and if I can only do one, the pros call this the siren. It's really good. It starts with "we" and goes to "aw." The "we" is high, the "aw" is low. So you go, weeeaawww, weeeaawww.
Hãy để tôi chỉ cách. Các bạn có thể cùng đứng lên một lát không? Tôi sẽ chỉ bạn sáu bài khởi động giọng nói mà tôi luôn làm trước mỗi bài diễn thuyết. Khi sắp nói với ai quan trọng, hãy làm như sau Đầu tiên, hai tay dơ lên, hít sâu, và thở ra, ahhhhh, như thế. Một lần nữa nào. Ahhhh, rất tốt. Giờ chúng ta sẽ làm ấm môi. Nào hãy nói ba, ba, ba, ba, ba, ba, ba, ba. Rất tốt. Và bây giờ, brrrrrrrrrr, y như lúc bạn còn là trẻ con. Brrrr. Giờ thì môi bạn đầy sức sống. Tiếp đến là bài tập lưỡi bằng cách cường điệu la, la, la, la, la, la, la, la, la. Giỏi. Bạn làm rất tốt. Và rồi, cuốn lưỡi thành chữ R. Rrrrrrr. Giống như thấm rượu sâm banh cho lưỡi. Cuối cùng, tôi sẽ làm mẫu một lần, dân chuyên gọi đây là tiếng còi. Cách này rất tốt. Nó đi từ chữ “we” đến chữ “aw”, “we” cao, “aw” thấp. Nào ta bắt đầu, weeeaawww, weeeaawww.
8:53
8:53
Fantastic. Give yourselves a round of applause. Take a seat, thank you. (Applause)
Tuyệt. Hãy cho bạn một tràng pháo tay. Mời mọi người ngồi, xin cảm ơn. (Vỗ tay)
8:58
8:58
Next time you speak, do those in advance.
Lần sau trước khi nói chuyện, bạn hãy làm các điều này.
9:01
9:01
Now let me just put this in context to close. This is a serious point here. This is where we are now, right? We speak not very well into people who simply aren't listening in an environment that's all about noise and bad acoustics. I have talked about that on this stage in different phases. What would the world be like if we were speaking powerfully to people who were listening consciously in environments which were actually fit for purpose? Or to make that a bit larger, what would the world be like if we were creating sound consciously and consuming sound consciously and designing all our environments consciously for sound? That would be a world that does sound beautiful, and one where understanding would be the norm, and that is an idea worth spreading.
Bây giờ tôi xin tổng kết. Đây là điểm quan trọng. Đây là tình trạng của chúng ta, đúng không? Chúng ta nói không được tốt, với người không lắng nghe, trong một môi trường đầy tiếng ồn và tạp âm. Tôi đã nói điều đó trên diễn đàn này vào những lúc khác nhau. Thế giới sẽ ra sao nếu ta nói mạnh mẽ hơn với những người chăm chú lắng nghe trong một môi trường thích hợp để trò chuyện? Nhìn rộng hơn, thế giới sẽ ra sao nếu ta tạo ra thanh âm một cách có ý thức và lắng nghe âm thanh một cách có ý thức và thiết kế không gian một cách có ý thức cho việc chuyện trò? Thế giới ấy nghe thật tuyệt, một thế giới lấy hiểu biết làm tiêu chuẩn cho mình, đó là một ý tưởng đáng sẻ chia.
9:48
9:48
Thank you.
Xin cảm ơn.
9:50
9:50
Thank you. (Applause)
Xin cảm ơn. (Vỗ tay)
                                                                                                                        (TED Talks)

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2015


0:12
0:12
The human voice: It's the instrument we all play. It's the most powerful sound in the world, probably. It's the only one that can start a war or say "I love you." And yet many people have the experience that when they speak, people don't listen to them. And why is that? How can we speak powerfully to make change in the world?
Giọng nói con người là thứ nhạc cụ chúng ta đều chơi, Có lẽ nó là âm thanh quyền năng nhất trên đời. Nó là thứ duy nhất có thể gây tranh chiến hoặc nói nên lời “Tôi yêu em”. Nhưng nhiều người trải qua tình huống là khi họ nói, người khác không lắng nghe. Vì sao lại thế? Làm thế nào để nói một cách mạnh mẽ để tạo ra thay đổi cho thế giới?
0:32
0:32
What I'd like to suggest, there are a number of habits that we need to move away from. I've assembled for your pleasure here seven deadly sins of speaking. I'm not pretending this is an exhaustive list, but these seven, I think, are pretty large habits that we can all fall into.
Gợi ý của tôi là có một số tật xấu mà chúng ta cần bỏ. Ở đây tôi đã tập hợp bảy lỗi chết người trong giao tiếp. Tôi không nói danh sách đây đã kể ra được hết, nhưng bảy điều này, theo tôi, là những tật xấu lớn mà ai cũng có thể mắc.
0:48
0:48
First, gossip, speaking ill of somebody who's not present. Not a nice habit, and we know perfectly well the person gossiping five minutes later will be gossiping about us.
Thứ nhất, thèo lẻo, nói xấu người vắng mặt. Không tốt, và ta biết tỏng kẻ ngồi lê đôi mách kia, năm phút sau sẽ tung tin đồn thổi về ta.
1:00
1:00
Second, judging. We know people who are like this in conversation, and it's very hard to listen to somebody if you know that you're being judged and found wanting at the same time.
Thứ hai, sự phán xét. Chúng ta biết người như thế khi trò chuyện và rất khó để lắng nghe ai đó khi biết người ta đang phán xét mình và chê bai mình là thiếu năng lực.
1:11
1:11
Third, negativity. You can fall into this. My mother, in the last years of her life, became very, very negative, and it's hard to listen. I remember one day, I said to her, "It's October 1 today," and she said, "I know, isn't it dreadful?" (Laughter) It's hard to listen when somebody's that negative.
Thứ ba, sự tiêu cực. Bạn có thể mắc phải tật này. Mẹ tôi, trong các năm cuối đời, trở nên rất chi là tiêu cực, nên nói cũng khó nghe. Tôi nhớ có ngày tôi bảo bà, “Hôm nay là 1/10”, bà đáp, “Mẹ biết, điều đó không khủng khiếp sao?” (Cười) Thật khó lắng nghe người tiêu cực như thế.
1:29
1:29
And another form of negativity, complaining. Well, this is the national art of the U.K. It's our national sport. We complain about the weather, about sport, about politics, about everything, but actually complaining is viral misery. It's not spreading sunshine and lightness in the world.
Một dạng khác của tiêu cực, là sự than phiền. Đây là môn nghệ thuật dân tộc của nước Anh. Với ta là thể thao quốc gia. Chúng ta than về thời tiết, thể thao, chính trị, tất tần tật, nhưng than thở là nỗi khổ lan truyền. Nó không toả nắng và làm nhẹ gánh cho ai.
1:47
1:47
Excuses. We've all met this guy. Maybe we've all been this guy. Some people have a blamethrower. They just pass it on to everybody else and don't take responsibility for their actions, and again, hard to listen to somebody who is being like that.
Sự biện hộ. Chúng ta đều đã gặp anh chàng này. Chưa biết chừng ta đã từng là cậu ấy. Vài người có cỗ máy ném lỗi. Họ chỉ việc ném lỗi cho người khác, từ chối trách nhiệm của hành vi, thật khó lắng nghe những ai như thế.
2:01
2:01
Penultimate, the sixth of the seven, embroidery, exaggeration. It demeans our language, actually, sometimes. For example, if I see something that really is awesome, what do I call it? (Laughter) And then of course this exaggeration becomes lying, out and out lying, and we don't want to listen to people we know are lying to us.
Điều thứ sáu trong bảy điều, là sự tô màu, phóng đại. Thực tế là đôi khi nó hạ cấp ngôn ngữ chúng ta. Ví dụ nếu tôi thấy một điều thật sự tuyệt vời, tôi sẽ gọi nó là gì đây? (Cười) Dĩ nhiên sự phóng đại này trở thành bịa đặt, nổ và nổ văng miểng, ta không còn muốn nghe kẻ ta biết là đang nói dối.
2:23
2:23
And finally, dogmatism, the confusion of facts with opinions. When those two things get conflated, you're listening into the wind. You know, somebody is bombarding you with their opinions as if they were true. It's difficult to listen to that.
Và cuối cùng, sự giáo điều, nhầm lẫn giữa thực tế và quan điểm. Khi hai thứ đó được trộn vào nhau, bạn chỉ nghe gió thổi. Họ công kích bạn bằng ý kiến như thể đúng rồi. Thật khó mà nghe cho nổi.
2:39
2:39
So here they are, seven deadly sins of speaking. These are things I think we need to avoid. But is there a positive way to think about this? Yes, there is. I'd like to suggest that there are four really powerful cornerstones, foundations, that we can stand on if we want our speech to be powerful and to make change in the world. Fortunately, these things spell a word. The word is "hail," and it has a great definition as well. I'm not talking about the stuff that falls from the sky and hits you on the head. I'm talking about this definition, to greet or acclaim enthusiastically, which is how I think our words will be received if we stand on these four things.
Đấy là bảy lỗi chết người trong nói năng. Theo tôi, đây là những thứ chúng ta cần tránh. Nhưng có cách nào tích cực để nghĩ về việc này không? Có chứ! Tôi muốn gợi ý bốn viên đá góc nhà, làm nền tảng chắc chắn, để làm chỗ đứng nếu muốn lời nói của ta nên mạnh có sức làm thế giới đổi thay. May thay, bốn điều này họp thành một chữ. Chữ đó là “hail”, và ta có một định nghĩa tuyệt vời. Tôi không định nói về mưa đá trên trời rơi xuống và đập vào đầu bạn. Mà tôi nói định nghĩa này, là chào thăm hay hoan hô nồng nhiệt, chính là cách lời nói của ta được đón nhận nếu ta dựa vào bốn điều này.
3:17
3:17
So what do they stand for? See if you can guess. The H, honesty, of course, being true in what you say, being straight and clear. The A is authenticity, just being yourself. A friend of mine described it as standing in your own truth, which I think is a lovely way to put it. The I is integrity, being your word, actually doing what you say, and being somebody people can trust. And the L is love. I don't mean romantic love, but I do mean wishing people well, for two reasons. First of all, I think absolute honesty may not be what we want. I mean, my goodness, you look ugly this morning. Perhaps that's not necessary. Tempered with love, of course, honesty is a great thing. But also, if you're really wishing somebody well, it's very hard to judge them at the same time. I'm not even sure you can do those two things simultaneously. So hail.
Vậy chúng viết tắt cho những chữ gì? Xem bạn có đoán được không. Chữ H, honesty (sự trung thực), dĩ nhiên rồi, nói thật, nói thẳng, và rõ. Chữ A, authenticity (sự xác thực), hãy là chính bạn. Một người bạn tôi mô tả điều này là nói những gì bạn tin là thật, tôi nghĩ gọi cách này thật hay. Chữ I là integrity (sự chính trực), hãy là lời bạn nói, sống theo điều bạn nói, và là người đáng tin. Và chữ L là love (tình yêu thương). Ý tôi không phải tình yêu đôi lứa, mà là cầu chúc an lành cho người khác, vì hai lí do. Trước hết, tôi nghĩ có lẽ ta sẽ không muốn sự trung thực tuyệt đối. Ý tôi là, ôi trời, sáng nay trông em xấu thật. Có lẽ điều đó không cần thiết. Khi được nói bằng tình yêu, sự trung thực ấy là đáng quý. Hơn nữa, nếu bạn thật sự mong an lành cho ai đó, thì khó để phán xét họ. Tôi không chắc bạn có thể làm hai điều đó trong cùng một lúc. Đó là h-a-i-l.
4:15
4:15
Also, now that's what you say, and it's like the old song, it is what you say, it's also the way that you say it. You have an amazing toolbox. This instrument is incredible, and yet this is a toolbox that very few people have ever opened. I'd like to have a little rummage in there with you now and just pull a few tools out that you might like to take away and play with, which will increase the power of your speaking.
Đó là những điều bạn nói, nhưng như ông bà thường dạy, ngoài điều bạn nói, còn là cách bạn nói. Bạn có một hộp dụng cụ tuyệt vời. Những dụng cụ này hay không thể tưởng được, nhưng có ít người từng mở nó ra. Tôi muốn lục lọi chiếc hộp này cùng bạn và lấy ra vài món có thể bạn muốn cầm lấy và thử chơi, để tăng sức mạnh cho lời nói của bạn.
4:37
4:37
Register, for example. Now, falsetto register may not be very useful most of the time, but there's a register in between. I'm not going to get very technical about this for any of you who are voice coaches. You can locate your voice, however. So if I talk up here in my nose, you can hear the difference. If I go down here in my throat, which is where most of us speak from most of the time. But if you want weight, you need to go down here to the chest. You hear the difference? We vote for politicians with lower voices, it's true, because we associate depth with power and with authority. That's register.
Âm vực, chẳng hạn. Giọng the thé có lẽ không hiệu quả lắm, nhưng có một khoảng âm ở giữa. Tôi sẽ không đi vào kĩ thuật, với các huấn luyện viên giọng nói. bạn có thể định dạng giọng của mình. Nếu tôi nói ở mũi, có thể nghe thấy sự khác biệt. Nếu tôi hạ giọng xuống cổ, thì giống giọng hầu hết chúng ta. Nhưng nếu bạn muốn tăng sức nặng, thì cần hạ giọng xuống ngực. Bạn nghe thấy sự khác biệt chưa? Ta bỏ phiếu cho chính khách có giọng trầm, đúng thế, vì ta gắn độ trầm với sức mạnh và quyền uy. Đó là âm vực.
5:15
5:15
Then we have timbre. It's the way your voice feels. Again, the research shows that we prefer voices which are rich, smooth, warm, like hot chocolate. Well if that's not you, that's not the end of the world, because you can train. Go and get a voice coach. And there are amazing things you can do with breathing, with posture, and with exercises to improve the timbre of your voice.
Rồi đến âm sắc. Đó là cảm giác mà giọng bạn đem đến. Nghiên cứu cho thấy chúng ta chuộng chất giọng truyền cảm, mượt, ấm - như sô cô la nóng. Nếu bạn không được vậy thì cũng không phải tận thế, vì bạn có thể luyện. Tìm huấn luyện viên giọng. Và bạn có thể làm nên điều tuyệt vời với hơi thở, tư thế, và các bài luyện giọng bạn cải thiện âm sắc của mình.
5:38
5:38
Then prosody. I love prosody. This is the sing-song, the meta-language that we use in order to impart meaning. It's root one for meaning in conversation. People who speak all on one note are really quite hard to listen to if they don't have any prosody at all. That's where the world monotonic comes from, or monotonous, monotone. Also we have repetitive prosody now coming in, where every sentence ends as if it were a question when it's actually not a question, it's a statement. (Laughter) And if you repeat that one over and over, it's actually restricting your ability to communicate through prosody, which I think is a shame, so let's try and break that habit.
Rồi đến ngữ điệu. Tôi yêu ngữ điệu. Đó là lúc người nói như hát, bằng siêu ngôn ngữ ta dùng để truyền tải ý nghĩa lời nói. Đó là gốc rễ cho ý nghĩa trong hội thoại. Những ai chỉ nói đều đều, không có sự thay đổi ngữ điệu thì rất khó để lắng nghe. Từ “đơn điệu” từ đấy mà ra, hay sự đơn điệu, có tính đơn điệu. Tiếp đó còn sinh ra ngữ điệu lặp lại, khi mỗi lời nói kết thúc như một câu hỏi dù nó không phải là câu hỏi, mà là câu khẳng định. (Cười) Và nếu bạn cứ lặp đi lặp lại y như thế, nó sẽ hạn chế khả năng giao tiếp bằng ngữ điệu của bạn, và tôi nghĩ điều này cũng không nên, hãy cố bỏ tật xấu đó đi.
6:19
6:19
Pace. I can get very, very excited by saying something really, really quickly, or I can slow right down to emphasize, and at the end of that, of course, is our old friend silence. There's nothing wrong with a bit of silence in a talk, is there? We don't have to fill it with ums and ahs. It can be very powerful.
Nhịp độ. Tôi trở nên rất, rất chi hào hứng bằng cách nói rất, rất nhanh, hoặc tôi có thể nói chậm ngay lại để nhấn mạnh, và ở cuối câu, dĩ nhiên, là người bạn cũ, sự im lặng. Không có gì sai với một chút im lặng trong cuộc trò chuyện, đúng không? Ta không phải lấp bằng um và ah. Im lặng nhiều khi rất có uy.
6:42
6:42
Of course, pitch often goes along with pace to indicate arousal, but you can do it just with pitch. Where did you leave my keys? Where did you leave my keys? So slightly different meaning in those two deliveries.
Dĩ nhiên, cao độ thường đi kèm nhịp độ để thể hiện hứng khởi, nhưng có thể chỉ cần cao độ. Em để chìa khóa của anh ở đâu? Em để chìa khóa của anh ở đâu? Ý nghĩa của hai câu nói hơi khác nhau qua hai cách nói này.
6:55
6:55
And finally, volume. I can get really excited by using volume. Sorry about that if I startled anybody. Or, I can have you really pay attention by getting very quiet. Some people broadcast the whole time. Try not to do that. That's called sodcasting, imposing your sound on people around you carelessly and inconsiderately. Not nice.
Và cuối cùng, cường độ. Tôi có thể rất hào hứng bằng cách dùng cường độ. Xin lỗi nếu tôi làm ai đó giật mình. Hoặc, tôi có thể khiến bạn thật sự chú ý bằng cách nói rất khẽ. Có vài người lúc nào cũng phát sóng. Hãy cố đừng làm thế. Đấy gọi là lấy thịt đè người, áp đặt âm thanh của bạn lên người xung quanh cách vô tâm và bất cẩn. Không tốt.
7:19
7:19
Of course, where this all comes into play most of all is when you've got something really important to do. It might be standing on a stage like this and giving a talk to people. It might be proposing marriage, asking for a raise, a wedding speech. Whatever it is, if it's really important, you owe it to yourself to look at this toolbox and the engine that it's going to work on, and no engine works well without being warmed up. Warm up your voice.
Dĩ nhiên, khi vận dụng tất cả những điều này là khi bạn phải nói điều gì đó quan trọng. Có thể là đứng trên sân khấu và diễn thuyết trước khán giả. Có thể là cầu hôn, đề nghị tăng lương, phát biểu ở hôn lễ. Sự kiện nào đi nữa, nếu nó rất quan trọng, bạn tự thấy mình cần đến công cụ này và cỗ máy sẽ được vặn lên, và không máy nào chạy tốt nếu không được làm ấm. Hãy làm ấm giọng bạn.
7:46
7:46
Actually, let me show you how to do that. Would you all like to stand up for a moment? I'm going to show you the six vocal warmup exercises that I do before every talk I ever do. Anytime you're going to talk to anybody important, do these. First, arms up, deep breath in, and sigh out, ahhhhh, like that. One more time. Ahhhh, very good. Now we're going to warm up our lips, and we're going to go ba, ba, ba, ba, ba, ba, ba, ba. Very good. And now, brrrrrrrrrr, just like when you were a kid. Brrrr. Now your lips should be coming alive. We're going to do the tongue next with exaggerated la, la, la, la, la, la, la, la, la. Beautiful. You're getting really good at this. And then, roll an R. Rrrrrrr. That's like champagne for the tongue. Finally, and if I can only do one, the pros call this the siren. It's really good. It starts with "we" and goes to "aw." The "we" is high, the "aw" is low. So you go, weeeaawww, weeeaawww.
Hãy để tôi chỉ cách. Các bạn có thể cùng đứng lên một lát không? Tôi sẽ chỉ bạn sáu bài khởi động giọng nói mà tôi luôn làm trước mỗi bài diễn thuyết. Khi sắp nói với ai quan trọng, hãy làm như sau Đầu tiên, hai tay dơ lên, hít sâu, và thở ra, ahhhhh, như thế. Một lần nữa nào. Ahhhh, rất tốt. Giờ chúng ta sẽ làm ấm môi. Nào hãy nói ba, ba, ba, ba, ba, ba, ba, ba. Rất tốt. Và bây giờ, brrrrrrrrrr, y như lúc bạn còn là trẻ con. Brrrr. Giờ thì môi bạn đầy sức sống. Tiếp đến là bài tập lưỡi bằng cách cường điệu la, la, la, la, la, la, la, la, la. Giỏi. Bạn làm rất tốt. Và rồi, cuốn lưỡi thành chữ R. Rrrrrrr. Giống như thấm rượu sâm banh cho lưỡi. Cuối cùng, tôi sẽ làm mẫu một lần, dân chuyên gọi đây là tiếng còi. Cách này rất tốt. Nó đi từ chữ “we” đến chữ “aw”, “we” cao, “aw” thấp. Nào ta bắt đầu, weeeaawww, weeeaawww.
8:53
8:53
Fantastic. Give yourselves a round of applause. Take a seat, thank you. (Applause)
Tuyệt. Hãy cho bạn một tràng pháo tay. Mời mọi người ngồi, xin cảm ơn. (Vỗ tay)
8:58
8:58
Next time you speak, do those in advance.
Lần sau trước khi nói chuyện, bạn hãy làm các điều này.
9:01
9:01
Now let me just put this in context to close. This is a serious point here. This is where we are now, right? We speak not very well into people who simply aren't listening in an environment that's all about noise and bad acoustics. I have talked about that on this stage in different phases. What would the world be like if we were speaking powerfully to people who were listening consciously in environments which were actually fit for purpose? Or to make that a bit larger, what would the world be like if we were creating sound consciously and consuming sound consciously and designing all our environments consciously for sound? That would be a world that does sound beautiful, and one where understanding would be the norm, and that is an idea worth spreading.
Bây giờ tôi xin tổng kết. Đây là điểm quan trọng. Đây là tình trạng của chúng ta, đúng không? Chúng ta nói không được tốt, với người không lắng nghe, trong một môi trường đầy tiếng ồn và tạp âm. Tôi đã nói điều đó trên diễn đàn này vào những lúc khác nhau. Thế giới sẽ ra sao nếu ta nói mạnh mẽ hơn với những người chăm chú lắng nghe trong một môi trường thích hợp để trò chuyện? Nhìn rộng hơn, thế giới sẽ ra sao nếu ta tạo ra thanh âm một cách có ý thức và lắng nghe âm thanh một cách có ý thức và thiết kế không gian một cách có ý thức cho việc chuyện trò? Thế giới ấy nghe thật tuyệt, một thế giới lấy hiểu biết làm tiêu chuẩn cho mình, đó là một ý tưởng đáng sẻ chia.
9:48
9:48
Thank you.
Xin cảm ơn.

                                                                                                            (TED Talks)

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015



0:11
0:11
At every stage of our lives we make decisions that will profoundly influence the lives of the people we're going to become, and then when we become those people, we're not always thrilled with the decisions we made. So young people pay good money to get tattoos removed that teenagers paid good money to get. Middle-aged people rushed to divorce people who young adults rushed to marry. Older adults work hard to lose what middle-aged adults worked hard to gain. On and on and on. The question is, as a psychologist, that fascinates me is, why do we make decisions that our future selves so often regret?
Ở mỗi giai đoạn cuộc đời chúng ta ra những quyết định có ảnh hưởng sâu sắc đến con người mình trong tương lai, và khi trở thành con người ấy, không phải lúc nào ta cũng hài lòng với quyết định đó. Thanh niên trả nhiều tiền để xóa hình xăm hồi thiếu niên họ đã trả nhiều tiền để xăm cho được. Người trung niên quyết ly dị người bạn đời mà hồi thanh niên họ đòi cưới cho được. Tuổi già tiêu pha hết những gì nhọc công kiếm được buổi trung niên. Vân vân và vân vân. Câu hỏi khiến tôi, một nhà tâm lý học, thích thú là tại sao ta lại ra những quyết định khiến bản thân thường xuyên hối tiếc trong tương lai?
0:49
0:49
Now, I think one of the reasons -- I'll try to convince you today — is that we have a fundamental misconception about the power of time. Every one of you knows that the rate of change slows over the human lifespan, that your children seem to change by the minute but your parents seem to change by the year. But what is the name of this magical point in life where change suddenly goes from a gallop to a crawl? Is it teenage years? Is it middle age? Is it old age? The answer, it turns out, for most people, is now, wherever now happens to be. What I want to convince you today is that all of us are walking around with an illusion, an illusion that history, our personal history, has just come to an end, that we have just recently become the people that we were always meant to be and will be for the rest of our lives.
Tôi cho rằng một trong những lý do là chúng ta có một quan niệm sai lầm căn bản về sức mạnh của thời gian. Mỗi chúng ta biết rằng càng già, tốc độ thay đổi càng chậm lại, rằng con cái quý vị thay đổi gần như từng phút nhưng cha mẹ quý vị dường như thay đổi theo năm. Tên gọi của cái điểm thần kỳ trong đời này là gì nơi mà sự thay đổi bất chợt chuyển từ nước đại thành sên bò? Tuổi thiếu niên chăng? Tuổi trung niên chăng? Tuổi già chăng? Câu trả lời, cho hầu hết mọi người, hóa ra là Lúc này, nó xảy ra bất cứ nơi nào được gọi là Bây giờ. Hôm nay, tôi muốn thuyết phục quý vị rằng tất cả chúng ta đang sống với một ảo tưởng, ảo tưởng đó là lịch sử, lịch sử cá nhân của ta, đã đến hồi kết thúc, rằng chúng ta đã trở thành con người mình luôn muốn trở thành và cứ thế mãi cho đến hết đời.
1:43
1:43
Let me give you some data to back up that claim. So here's a study of change in people's personal values over time. Here's three values. Everybody here holds all of them, but you probably know that as you grow, as you age, the balance of these values shifts. So how does it do so? Well, we asked thousands of people. We asked half of them to predict for us how much their values would change in the next 10 years, and the others to tell us how much their values had changed in the last 10 years. And this enabled us to do a really interesting kind of analysis, because it allowed us to compare the predictions of people, say, 18 years old, to the reports of people who were 28, and to do that kind of analysis throughout the lifespan.
Dữ liệu cho luận điểm này. Đây là một nghiên cứu về sự thay đổi trong giá trị con người qua thời gian. Đây là ba giá trị. Mỗi người ở đây có cả ba, quý vị có lẽ biết rằng khi lớn lên, sự cân bằng giữa các giá trị sẽ chuyển đổi. Tại sao lại thế? Chúng tôi đã hỏi hàng nghìn người, yêu cầu một nửa trong số họ đoán xem giá trị của mình sẽ thay đổi ra sao trong 10 năm tới, và yêu cầu nửa còn lại cho biết giá trị của họ trong 10 năm qua thay đổi thế nào. Điều này giúp thực hiện một phép phân tích thú vị, cho phép so sánh những phỏng đoán của, thí dụ, những người 18 tuổi, với ý kiến của người 28, và làm phân tích này xuyên suốt đời người.
2:24
2:24
Here's what we found. First of all, you are right, change does slow down as we age, but second, you're wrong, because it doesn't slow nearly as much as we think. At every age, from 18 to 68 in our data set, people vastly underestimated how much change they would experience over the next 10 years. We call this the "end of history" illusion. To give you an idea of the magnitude of this effect, you can connect these two lines, and what you see here is that 18-year-olds anticipate changing only as much as 50-year-olds actually do.
Đây là cái chúng tôi tìm được. Trước hết, đúng là sự thay đổi chậm lại theo tuổi tác nhưng thứ hai, quý vị đang sai, nó không chậm lại nhiều như ta nghĩ. Theo dữ liệu của chúng tôi, ở mỗi tuổi từ 18 đến 68, người ta đánh giá hết sức thấp độ thay đổi mà mình sẽ trải nghiệm trong vòng 10 năm tới. Chúng tôi gọi đây là ảo tưởng "lịch sử chấm dứt". Để dễ hình dung về mức độ của hiệu ứng này, nối hai đường kẻ này, và cái quý vị thấy là những người tuổi 18 ước tính một độ thay đổi ngang với những người tuổi 50.
3:00
3:00
Now it's not just values. It's all sorts of other things. For example, personality. Many of you know that psychologists now claim that there are five fundamental dimensions of personality: neuroticism, openness to experience, agreeableness, extraversion, and conscientiousness. Again, we asked people how much they expected to change over the next 10 years, and also how much they had changed over the last 10 years, and what we found, well, you're going to get used to seeing this diagram over and over, because once again the rate of change does slow as we age, but at every age, people underestimate how much their personalities will change in the next decade.
Không chỉ là giá trị. Còn nhiều thứ khác nữa. Thí dụ, tính cách. Nhiều nhà tâm lý học khẳng định nhân cách có năm phương diện: sự loạn thần kinh, sự cởi mở với trải nghiệm, tính dễ ưng thuận, sự hướng ngoại và sự tận tâm. Chúng tôi lại hỏi xem họ cho là mình sẽ thay đổi bao nhiêu trong 10 năm tới, và thay đổi bao nhiêu trong 10 năm qua, cái chúng tôi tìm được, quý vị sẽ làm quen với biểu đồ này, vì, một lần nữa, độ thay đổi có chậm lại theo tuổi tác, nhưng ở mỗi tuổi, người ta đánh giá quá thấp độ thay đổi của nhân cách trong thập niên sắp tới.
3:40
3:40
And it isn't just ephemeral things like values and personality. You can ask people about their likes and dislikes, their basic preferences. For example, name your best friend, your favorite kind of vacation, what's your favorite hobby, what's your favorite kind of music. People can name these things. We ask half of them to tell us, "Do you think that that will change over the next 10 years?" and half of them to tell us, "Did that change over the last 10 years?" And what we find, well, you've seen it twice now, and here it is again: people predict that the friend they have now is the friend they'll have in 10 years, the vacation they most enjoy now is the one they'll enjoy in 10 years, and yet, people who are 10 years older all say, "Eh, you know, that's really changed."
Và đây không phải là thứ chóng vánh như giá trị và nhân cách. Quý vị có thể hỏi người khác về sở thích, sở ghét, sở thích cơ bản của họ. Thí dụ, hãy nêu tên người bạn thân nhất, kiểu đi nghỉ quý vị thích nhất, sở thích, loại nhạc ưa thích. Họ có thể kể tên chúng. Chúng tôi yêu cầu một nửa trả lời câu "Bạn có nghĩ điều này sẽ thay đổi trong 10 năm tới?" và nửa còn lại trả lời câu "Điều này có thay đổi gì trong vòng 10 năm qua ?" Cái chúng tôi tìm ra, là cái quý vị đã thấy hai lần và nó đây : người ta đoán rằng người bạn mà mình có hôm nay sẽ vẫn là người bạn trong 10 năm tới, kỳ nghỉ người ta ham thích nhất bây giờ sẽ vẫn là cái họ thích trong 10 năm tới, tuy nhiên, những người già hơn 10 tuổi nói "Ôi, anh ạ, cái ấy đã thực sự thay đổi rồi."
4:26
4:26
Does any of this matter? Is this just a form of mis-prediction that doesn't have consequences? No, it matters quite a bit, and I'll give you an example of why. It bedevils our decision-making in important ways. Bring to mind right now for yourself your favorite musician today and your favorite musician 10 years ago. I put mine up on the screen to help you along. Now we asked people to predict for us, to tell us how much money they would pay right now to see their current favorite musician perform in concert 10 years from now, and on average, people said they would pay 129 dollars for that ticket. And yet, when we asked them how much they would pay to see the person who was their favorite 10 years ago perform today, they say only 80 dollars. Now, in a perfectly rational world, these should be the same number, but we overpay for the opportunity to indulge our current preferences because we overestimate their stability.
Có đáng lưu tâm không? Có phải là một phán đoán sai vô hại ? Không, nó rất quan trọng, tôi sẽ cho ví dụ. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc ra quyết định của ta. Hãy nghĩ đến thần tượng âm nhạc của mình ngày hôm nay hoặc thần tượng của 10 năm trước. Tôi cũng để tên thần tượng của tôi lên đây. Giờ ta hỏi mọi người hãy dự đoán, họ sẽ trả bao nhiêu tiền ngay bây giờ để đi xem ngôi sao ca nhạc của họ hiện nay biểu diễn vào 10 năm tới, tính trung bình, mọi người nói họ sẽ trả 129 đô để mua vé đó. Thế nhưng, khi chúng tôi hỏi họ sẽ trả bao nhiêu để đi xem ngôi sao ca nhạc mười năm trước biểu diễn ngày hôm nay, họ trả lời chỉ 80 đô thôi. Theo tư duy duy lý, hai con số hẳn phải bằng nhau, chúng ta chi mạnh tay cho những dịp chiều theo sở thích hiện tại của mình vì đánh giá quá cao sự ổn định của nó.
5:23
5:23
Why does this happen? We're not entirely sure, but it probably has to do with the ease of remembering versus the difficulty of imagining. Most of us can remember who we were 10 years ago, but we find it hard to imagine who we're going to be, and then we mistakenly think that because it's hard to imagine, it's not likely to happen. Sorry, when people say "I can't imagine that," they're usually talking about their own lack of imagination, and not about the unlikelihood of the event that they're describing.
Tại sao như vậy? Cũng không rõ, nhưng chắc có liên quan đến việc nhớ thì dễ hình dung thì khó. Hầu hết ta đều nhớ mình là ai 10 năm trước, nhưng lại khó hình dung sẽ thế nào trong 10 năm tới và lầm tưởng rằng vì khó hình dung, nên chưa chắc nó sẽ xảy ra. Thật tiếc, khi người ta nói "Tôi không thể hình dung," họ đang nói về óc tưởng tượng nghèo nàn của mình, chứ không phải về khả năng ít xảy ra của điều họ đang nói đến.
5:52
5:52
The bottom line is, time is a powerful force. It transforms our preferences. It reshapes our values. It alters our personalities. We seem to appreciate this fact, but only in retrospect. Only when we look backwards do we realize how much change happens in a decade. It's as if, for most of us, the present is a magic time. It's a watershed on the timeline. It's the moment at which we finally become ourselves. Human beings are works in progress that mistakenly think they're finished. The person you are right now is as transient, as fleeting and as temporary as all the people you've ever been. The one constant in our life is change.
Gốc rễ của vấn đề: thời gian là một mãnh lực cải biến sở thích, biến đổi giá trị, thay đổi nhân cách. Dường như, ta đánh giá đúng điều này, nhưng chỉ là khi nhìn lại. Chỉ khi quay đầu nhìn lại ta mới nhận ra mười năm bao nước đã qua cầu. Dường như, với hầu hết chúng ta, hiện tại là thời gian mầu nhiệm. Đó là chỗ dòng thời gian chảy xiết. Vào khoảng khắc đó, ta bỗng trở thành chính mình. Con người là công việc còn dang dở lại lầm tưởng rằng mình đã xong xuôi. Con người ta trong lúc này là nhất thời, thoáng qua, tạm bợ như con người mà ta đã sống. Cái bất biến trong đời ta là thay đổi.
6:39
6:39
Thank you.
Xin cám ơn.

                                                                                                                        (TED Talks)